Chương 5 - Đổi Đời Từ Hai Bao Phân Chim
Anh ta thì biết nuôi cái gì.
Trước kia nhiệt độ ấp trứng là tôi chỉnh, tỉ lệ phối trộn thức ăn là tôi tính, quy trình phòng dịch là tôi lập.
Anh ta còn không biết ba ngày đầu sau khi chim non nhập chuồng nên cho ăn cái gì.
Lứa chim non mới nhập cứ hai ba ngày lại ỉu xìu, đứng không vững, cổ rũ xuống.
Anh ta gọi điện cho người bán thức ăn để chửi.
Chửi người ta bán hàng giả, lừa đảo.
Người bán thức ăn nghe xong trực tiếp cúp máy.
Anh ta gọi lại lần nữa thì đã bị kéo vào danh sách chặn.
Không lâu sau, Lục Phóng lảng vảng quanh trang trại của tôi.
Anh ta bảo người ta đưa anh ta vào.
“Tôi là anh ruột của Lục Uyển, ở đây cũng có phần của tôi.”
Không ai để ý đến anh ta, anh ta liền trèo tường vào, chỉ vào mũi tôi nói:
“Lục Uyển, mày đừng có đắc ý quá.”
“Nếu mày không cho tao đường sống, đừng trách tao liều mạng kéo mày xuống nước!”
“Bây giờ tao chẳng còn gì nữa, người chân trần không sợ kẻ mang giày!”
Tôi nhàn nhạt nhìn anh ta một cái, không nói lời thừa.
“Còn không đi, em báo cảnh sát.”
Ngực Lục Phóng phập phồng dữ dội, sắc mặt khó coi đến cực điểm.
Sau khi xám mặt rời đi, anh ta lái một chiếc xe van cũ nát đi từng nhà họ hàng vay tiền.
Đầu tiên đến nhà cậu cả.
Cậu cả rót cho anh ta một ly nước, nói trong tay không có tiền, năm nay phân bón tăng giá, mùa màng lại kém.
Rồi đến nhà chú hai.
Chú hai nói tiền đều đang nằm trong hàng hóa, đợi bán được hàng rồi tính.
Cuối cùng đến nhà cô ba.
Cô ba đến cửa cũng không cho anh ta vào.
Qua khe cửa, cô chỉ nói một câu:
“Chuyện nhà các cháu cả làng này đều biết hết rồi. Đứa bé ngoan như A Uyển bị các cháu ép đến mức đó.”
“Tiền này cô không cho vay được.”
Lục Phóng đứng trước cửa nhà cô ba chửi ầm lên.
Chửi họ hàng thực dụng, chửi năm xưa lúc anh ta vẻ vang thì ai cũng kéo đến ăn ké, bây giờ anh ta sa cơ thì đến cửa cũng không cho vào.
Người trong làng vây thành một vòng xem náo nhiệt.
Có người cắn hạt dưa, có người khoanh tay đứng bên cạnh cười.
Anh ta chửi đến khàn cả cổ.
Cuối cùng ngồi xổm trước cửa nhà cô ba, hai tay ôm đầu.
Gào khóc nức nở.
Hôm đó có người quay video gửi cho tôi.
Trong video, Lục Phóng ngồi xổm trên con đường đất, xung quanh là một đám dân làng đang chỉ chỉ trỏ trỏ.
Tôi xem xong thì úp điện thoại xuống bàn.
Sau đó, Lục Phóng lại đến tìm tôi.
Người gầy đi một vòng, xương gò má nhô cao, hốc mắt lõm xuống, tóc tai rối tung như một mớ cỏ khô.
Anh ta đứng ngoài cổng sắt.
Thấy tôi đi ra khỏi văn phòng, trên mặt nặn ra một nụ cười.
Nụ cười ấy còn khó coi hơn khóc.
“A Uyển. Trước kia là anh có lỗi với em.”
Anh ta giơ hai chai rượu lên, cách cổng sắt cho tôi xem.
“Anh em ruột thịt, đánh gãy xương vẫn còn liền gân.”
“Chuyện đã qua thì cho nó qua đi. Bây giờ em kéo anh một tay, anh nhớ ơn em cả đời.”
“Em cho anh vào ngồi một lát. Có gì chúng ta nói chuyện trực tiếp.”
Tôi đứng bên trong cổng.
Nhìn mặt anh ta, rồi nhìn hai chai rượu kia.
“Anh cầm về đi.”
Nói xong, tôi xoay người trở lại văn phòng.
Anh ta đứng ngoài cửa cả một buổi chiều.
Từ gọi “A Uyển” đến gọi “đồ khốn”.
Cuối cùng cổ họng khàn đặc, anh ta bắt đầu chửi.
Chửi tôi vong ơn bội nghĩa, chửi tôi không có lương tâm, chửi tôi lòng lang dạ sói.
Cách cửa sổ, tôi nhìn thấy anh ta vẫn đứng ngoài cổng sắt, hai cánh tay buông thõng, cái bóng trên mặt đất càng kéo càng dài.
Trời sẩm tối, anh ta mới lê bước rời đi.
Bóng lưng còng xuống, hai chân như bị đổ chì.
Tôi kéo rèm cửa lại.
Ngày Lý Tú Nguyệt đến, chị ta mặc một chiếc áo khoác cũ giặt đến bạc màu.
Tóc buộc đuôi ngựa qua loa, mặt gầy đến biến dạng.
Đứng trước cổng trang trại, hai tay chị ta siết chặt vạt áo, môi run run hồi lâu.
Tôi bảo người làm dừng việc trong tay.
Đi đến cửa, cách cổng sắt nhìn chị ta.
“Có việc gì?”
Chị ta mở miệng, giọng rất yếu.
“Uyển này. Đều là người một nhà. Em cần gì phải thù dai đến vậy?”
“Anh em biết sai rồi. Mười năm tiền lương kia, bọn chị sẽ nghĩ cách bù cho em.”
Chị ta ngẩng mắt lên, hai mắt đỏ hoe.
“Em kéo anh ấy một tay đi. Anh ấy cứ tiếp tục thế này thì người cũng hỏng mất.”
Tôi cúi đầu nhìn chị ta.
“Chị dâu.”
“Lúc trước em đứng trước cửa nhà chị chuyển hai bao phân chim đi, sao chị không khuyên anh ấy kéo em một tay?”
Sắc mặt chị ta lập tức trắng bệch.
Môi run rẩy, muốn nói gì đó, nhưng cuối cùng không thốt ra được một chữ.
Tôi xoay người đi.
Cánh cửa văn phòng đóng lại trước mặt chị ta.
Gần tối, tôi liếc ra ngoài cửa sổ một cái.
Chị ta đã đi rồi.
Hai năm sau, trang trại mở rộng từ mười mẫu lên ba mươi mẫu.
Sáu dãy chuồng tiêu chuẩn hóa mái xanh tường trắng, xếp ngay ngắn trên sườn đồi.
Hệ thống cho ăn tự động vận hành đúng giờ mỗi ngày, tiếng băng chuyền vo ve khe khẽ trở thành âm nền ổn định nhất của trang trại.
Ba màn hình trong phòng giám sát cập nhật tình trạng đà điểu theo thời gian thực.
Tôi đứng trước cửa sổ văn phòng tầng hai, trong tay bưng ly cà phê vừa xay.
Trên kính cửa sổ phản chiếu mấy chữ kim loại “Cơ sở chăn nuôi đà điểu Viễn Sơn”, sáng lên lạnh và sắc dưới nắng sớm.
CHƯƠNG 6 – ẤN ĐỂ ĐỌC TIẾP: