Chương 12 - Đêm Tân Hôn Bí Mật
Tiếng cười tắt lịm, Đại Lý Tự khanh khẽ tằng hắng một tiếng: “Khai đường.”
Đợt đầu tiên đưa lên là mẫu gạo cống Giang Nam năm nay.
Quan viên bên cạnh Hạ Sùng Minh nói: “Gạo này do Hộ bộ tái kiểm, màu sắc, mùi thơm, hạt gạo đều đúng với quy chuẩn gạo cống mới.”
Ta bước tới, chỉ liếc mắt qua “Không đúng.”
Quan viên kia sầm mặt: “Bùi phu nhân cẩn trọng lời nói.”
Ta vê một hạt gạo lên.
“Gạo mới phần bụng gạo phải căng bóng, gạo này độ bóng chỉ phủ bên ngoài, giống như mặt người được đánh phấn, nhìn thì trắng nhưng rửa đi là lộ bản chất.”
Công đường lặng ngắt. Trên hàng ghế dự khán, không biết ai đó không kìm được khẽ bật cười. Sắc mặt Hạ Sùng Minh cuối cùng cũng tái đi đôi chút.
Ta thả gạo vào nước trong. Chẳng mấy chốc, một lớp bột lắng đọng rõ rệt dưới đáy bát. Ta tiếp tục đổ nước nóng vào, mùi hôi mốc bốc lên. Cuối cùng, khi nhỏ thêm vài giọt giấm gạo, cái mùi thơm hăng hắc lan tỏa khiến cả Đại Lý Tự khanh cũng phải cau mày.
Ta dõng dạc nói: “Đây là gạo cũ đã qua xông hơi.”
“Nếu đưa vào kho làm lương thực cứu tế, phát đến tay bách tính, chưa đầy mười ngày sẽ bị mốc trở lại.”
Tiếng mưa rơi ngoài công đường nặng hạt dần. Hạ Sùng Minh cuối cùng cũng mở lời: “Bùi phu nhân nghiệm gạo quả là có chút tài mọn. Nhưng danh sách gạo cống đâu phải là chuyện mua bán chốn thị tỉnh.”
Ta nhìn thẳng vào mắt ông ta: “Đại nhân nói đúng. Cho nên tiếp theo, ta muốn xét sổ thuyền.”
**25**
Khi sổ thuyền được mang lên, sắc mặt Hạ Sùng Minh không hề nao núng. Kẻ sừng sỏ như ông ta, càng vào thời khắc nguy cấp, càng biết giấu đi sự yếu đuối.
Nhưng ta tinh mắt thấy chén trà bên tay ông ta khẽ rung lên một nhịp. Chỉ một nhịp ấy, đã quá đủ để tố cáo sự hoảng loạn.
Ta lật quyển sổ lộ phí đường thủy của gạo cống năm nay: “Từ Giang Châu đến kinh thành, đường thủy dài ngàn bảy trăm dặm, chia làm ba chặng. Khấu hao thông thường chỉ ở mức từ hai đến ba ly.”
Quan viên Hộ bộ nhíu mày: “Sổ này ghi ba ly rưỡi, tuy có hơi cao, nhưng không phải là không thể giải thích.”
“Tại sao lại cao?”
“Mưa đông nhiều, thuyền chạy chậm, ẩm mốc nặng.”
“Vậy tại sao thuyền ở huyện Lâm An sát vách cùng xuất bến trong tháng, chịu cùng mưa đông, đi cùng tuyến đường thủy, mức khấu hao chỉ có hai ly mốt?”
Quan viên Hộ bộ cứng họng.
Ta đặt hai quyển sổ song song trên bàn: “Nếu nói thuyền Giang Châu chậm, thì tiền neo đậu ban đêm lại ít hơn Lâm An; nếu nói Giang Châu hao phí nhiều, thì bạc bù kho lại không được ghi nhận; nếu nói là do hao mốc, thì gạo mốc biến đi đâu mất; nếu nói là hao do chuột cắn, thì lũ chuột Giang Châu quả là biết quy củ, chỉ xơi gạo cống chứ không đụng đến gạo dằn đáy khoang.”
Ngoài công đường vang lên vài tiếng cười nén giấu.
Hạ Sùng Minh lạnh lùng buông lời: “Phu nhân mồm mép cũng giảo hoạt thật.”
Ta đáp trả: “Kẻ làm sổ sách nếu không lanh lợi, sớm đã bị lừa đến phá sản rồi.”
Đại Lý Tự khanh gõ kinh đường mộc cảnh cáo. Ta thu lại lời nói, dâng quyển sổ sách cũ kỹ lên.
“Đây là sổ phí đường thủy của vụ án nghĩa thương Giang Châu Thẩm thị hai mươi năm trước.”
Ánh mắt Hạ Sùng Minh sa sầm.
“Năm đó, thuyền gạo của Thẩm thị vốn phải chạy thẳng đến kho Lăng Thủy, nhưng lại dôi ra một khoản tiền neo đậu đêm ở bến Thanh Thạch. Năm nay, vụ án gạo cống Tống gia cũng xuất hiện khoản tiền tương tự ở bến Thanh Thạch. Hai mươi năm trước, gạo mới Thẩm thị đến kho thì thành gạo cũ; năm nay, mẫu gạo cống Tống gia cũng bị xông thành gạo cũ.”
Ta ngẩng lên nhìn thẳng Hạ Sùng Minh: “Hạ đại nhân, sự trùng hợp trên thế gian này, có thể đem ghi vào sổ sách theo quy củ của Lễ bộ không?”
Câu nói thốt ra, cả công đường rơi vào tĩnh mịch. Hạ Sùng Minh chậm rãi hạ chén trà xuống.
“Bùi phu nhân, ngươi đang ám chỉ bản quan đấy ư?”
Ta không hề lùi bước: “Ta đang tra xét sổ sách.”
Ông ta trừng mắt nhìn ta, ánh nhìn cuối cùng đã hiện rõ sự sắc lạnh: “Hai mươi năm trước, sổ sách đã ố vàng, con dấu cũng mờ nhạt. Ngươi, một nữ nhi thương hộ, dựa vào đâu mà dám khẳng định ở bến Thanh Thạch có chuyện tráo gạo?”
Ta vừa định lên tiếng, thì bên ngoài bỗng vang lên giọng nói sang sảng: “Ta có thể làm chứng!”
Mọi người ngoảnh đầu lại, chỉ thấy một lão phu thuyền thọt chân được nha dịch dìu bước vào. Ông ướt sũng, ôm khư khư một tấm ván gỗ mục. Ta nhận ra ông, đó là lão Chu – khách quen hay ghé tiệm cháo. Thường ngày ông cứ ngồi lì ở góc bàn gần cửa nhất, xì xụp ăn bát cháo, trả hai đồng xu, chẳng hề hé răng nửa lời.
Lão quỳ mọp xuống giữa công đường, giọng khàn đặc: “Hai mươi năm trước, gạo của Thẩm gia chính là bị đánh tráo ở bến Thanh Thạch.”
**26**
Ta không ngờ lão Chu lại xuất hiện, càng không ngờ lão lại liên quan đến vụ án cũ của Thẩm gia.
Đại Lý Tự khanh nghiêm giọng hỏi: “Ngươi là ai?”
Lão Chu dập đầu một cái: “Thảo dân Chu Cừ, hai mươi năm trước là thủy thủ trên thuyền chở gạo của Thẩm gia.”
Hạ Sùng Minh nheo mắt lại: “Đã là người của hai mươi năm trước, tại sao hôm nay mới ló mặt ra?”
Lão Chu ngẩng mặt lên. Trên khuôn mặt nhăn nheo của lão đẫm nước mưa, chẳng rõ đó là nước mắt hay nước trời.