Chương 18 - Chiếc Đồng Hồ Bí Ẩn
Tuy Trạm số 3 nằm sâu bốn mươi mét dưới lòng đất, mấy trò lục soát thông thường làm sao mà mò ra được.
Nhưng lỡ đâu bọn chúng tìm thấy cái hầm trú ẩn cũ của tôi thì sao?
Đồ đạc trong đó đã dọn sạch bách, cái lỗ chui cũng bịt kín rồi.
Nhưng mà CỬA HẦM vẫn còn nằm sờ sờ ở đó.
Nếu có đứa tinh mắt săm soi cái “đống rác” ngụy trang, xé toạc tấm lưới rằn ri và lưới thép, lộ ra cái cửa sắt và cửa chống cháy…
Thì dù chúng có phá cửa vào trong không được gì đi nữa, chúng cũng sẽ biết chỗ này từng có người ở.
Rồi sau đó, bọn chúng sẽ bủa vây lùng sục từng tấc đất quanh khu vực này.
Không được.
Tôi phải đi xử lý chuyện này.
Chương 28
Đêm đó, tôi đưa ra một quyết định.
Bắt buộc phải quay lại hầm trú ẩn cũ một chuyến, xóa sạch sành sanh mọi dấu vết ở lối vào.
Đợi Đậu Đậu ngủ say, tôi xách đồ nghề lên vai, chui hầm ngược về vị trí hầm cũ.
Cái lỗ thủng vừa mới trát lại hôm trước nay lại phải đục ra.
Tôi hì hục cả tiếng đồng hồ đục tung lớp bê tông và đá dăm, chui tọt lên tầng dưới của cái hầm.
Hầm trống huơ trống hoác, tối om om.
Mấy thứ đồ lặt vặt tôi cố tình quăng lại vẫn còn y nguyên đó.
Tôi mò lên tầng trên, check camera.
Ắc quy vẫn còn thoi thóp chút điện mọn, camera vẫn xem được.
Bên ngoài cửa hầm không có mống nào.
Ba giờ sáng.
Tôi mở tung cửa sắt chống nổ, cửa chống cháy, cửa lưới sắt, lao vút ra ngoài miệng hầm.
Bắt đầu công cuộc dọn dẹp.
Đầu tiên là nhổ phăng cái biển “Khu vực nguy hiểm cấm lại gần”.
Cái biển này ngứa mắt quá, dễ gây sự chú ý.
Xong, băm vằm cái lưới rằn ri thành từng mảnh nhỏ xíu, trộn lẫn vào đám cỏ dại.
Lưới thép cũng tháo dỡ luôn, quăng tứ tán ra mấy bụi cỏ dại cách đó mấy chục mét.
Tiếp theo là dùng đất và xà bần lấp phẳng lỳ cái miệng hầm.
Không phải che đậy qua quýt, mà là lấp ĐẶC lại.
Tôi xách xẻng đào đất xung quanh, xúc từng xẻng từng xẻng đổ ập vào miệng hầm.
Lấp hì hục ròng rã hai tiếng đồng hồ.
Miệng hầm biến mất tăm mất tích.
Thế chỗ vào đó là một bãi đất bằng phẳng không khác gì địa hình xung quanh.
Tôi rải thêm đá dăm và hạt giống cỏ dại lên trên.
Vài bữa nữa cỏ mọc lên là đố ai mà nhìn ra được.
Ba lớp cửa của cái hầm giờ vứt đi cũng chả tiếc.
Tôi khép hờ tất cả lại, không khóa mống nào, rồi tiện tay hắt thêm ít nước bùn lên cửa sắt cho nó có vẻ rỉ sét mục nát.
Nếu có kẻ nào trâu bò moi ra được cái cửa hầm này (mặc dù khả năng đó giờ chỉ xấp xỉ bằng không), chui vào trong sẽ chỉ thấy một cái hầm phòng không thời nảo thời nao bị bỏ hoang, trống hoác trống huếch.
Chẳng có đồ ăn thức uống gì.
Cũng chẳng có tăm hơi của người sống.
Xử lý xong xuôi mọi thứ, trời cũng tờ mờ sáng.
Văng vẳng từ xa dội lại tiếng gầm gừ của vài con Zombie.
Không gần lắm.
Nhưng cũng chả xa mấy.
Tôi tức tốc chui vào tầng dưới của cái hầm, lặn ngược xuống đường hầm.
Rồi lại hì hục trát lại cái lỗ thủng dưới nền nhà.
Lần này tôi chơi hẳn hai lớp xi măng.
Bịt kín bưng.
Cầu nối giữa hầm trú ẩn cũ và Trạm số 3 chính thức bị cắt đứt hoàn toàn.
Từ nay về sau, muốn ra vào Trạm số 3 chỉ còn đúng một con đường: Đi qua cánh cửa sắt tròn phải xác thực bằng USB.
Mà cánh cửa đó nằm tít sâu 40 mét dưới lòng đất, ngăn cách bởi đường hầm bỏ hoang dài 2 km, và quan trọng nhất là cái cửa vào trên mặt đất không hề có lấy một dấu vết nào để nhận dạng.
Trừ khi có được tấm bản đồ mạng lưới ngầm hoàn chỉnh, bằng không, đừng hòng có ma nào tìm ra được.
Mà bản đồ thì chỉ có một bản duy nhất.
Đang nằm gọn trong tay tôi.
Quay lại Trạm số 3.
Tôi đi tắm nước nóng.
Cái bình nóng lạnh thời 1998 sau 25 năm vẫn chạy tốt.
Đây là lần tắm nước nóng đầu tiên của tôi kể từ khi tận thế ập đến.
Đứng dưới vòi sen, từng thớ thịt căng cứng giãn ra từng chút một.
Nước mắt hòa lẫn nước nóng chảy dài, chả biết đằng nào mà lần.
Ông nội ơi.
Những gì ông để lại cho cháu thực sự quá đủ rồi.
Cháu nhất định sẽ sống sót thật tốt.
Chương 29
Ngày thứ 30.
Tròn một tháng.
Cuộc sống ở Trạm số 3 trôi qua dễ thở hơn tôi nghĩ rất nhiều.
Pin hạt nhân cung cấp điện đều đặn, đèn đóm sáng choang, điều hòa duy trì mức nhiệt độ lý tưởng 22 độ.
Không khí qua bộ lọc trong lành sạch sẽ, hệ thống nước ngày nào cũng tuôn ra nước ngọt đủ cho hai chị em xài bét nhè.
Tôi bắt đầu tận dụng mấy căn phòng trống trong Trạm số 3 để trồng rau.
Đèn quang hợp, đất dinh dưỡng và hạt giống đã được ôm sang từ hồi còn ở hầm cũ.
Dưa chuột và cải thìa là hai món nhú mầm đầu tiên.
Niềm vui to bự nhất của Đậu Đậu mỗi ngày là xổm trước mấy cái chậu ngóng xem mầm rau có cao lên miếng nào chưa.
“Chị ơi ra xem này! Dưa chuột ra lá rồi!”
Nó bê nguyên cái chậu chạy lon ton tới khoe tôi.
“Tuyệt quá, một tháng nữa là tụi mình có dưa chuột nhà trồng để ăn rồi.”
Nó sướng rơn, nhảy cẫng lên xoay vòng vòng.
Suốt một tháng trời, ngày nào tôi cũng dán tai vào thiết bị liên lạc nghe ngóng động tĩnh trên mặt đất.
Vòi bạch tuộc của Băng Thiên Khải vẫn vươn dài.
Nhưng nội bộ của bọn chúng đã bắt đầu lục đục.
“Đại ca, đám tép riu ở dưới lại làm phản rồi. Chuyến này là chuyến thứ ba trong tháng.”
“Làm phản chuyện gì?”