Chương 1 - Cảm Giác Nghe Lén Đồ Cổ
TÔI PHẤT LÊN NHỜ NGHE LÉN ĐỒ CỔ TÁM CHUYỆN
Tôi có thể nghe thấy tất cả những món đồ cũ chửi thề.
Ví dụ như lúc này, cái ghế Thái sư gãy một chân đang nhổ nước bọt vào mặt tôi.
“Cái đồ không có mắt! Hồi xưa lúc quan Trung đường ngồi lên người ta, còn phải lót đệm gấm chỉ vàng cho ta đấy! Lấy ba cái keo 502 này định lừa ai hả!”
Giọng nói già nua, trầm đục, toát lên vẻ ngông cuồng của kẻ ỷ già cậy lão.
Tay tôi đang cầm tuýp keo bỗng cứng đờ, quay ngoắt sang nhìn chằm chằm vào đống gỗ rách nát đó.
Trong tiệm lúc này chỉ có tôi và bà chủ béo.
Bà chủ đang cắn hạt dưa, nước bọt văng tung tóe lên cái máy tính, chắc chắn không rảnh để chơi trò lồng tiếng với tôi.
“Đứng ngây ra đó làm gì? Tô Bán Hạ, cái ghế đó hôm nay mà không dán xong thì trừ cô năm chục!”
Bà chủ lườm tôi một cái cháy máy.
Tôi rụt tay lại, vừa đặt tuýp keo xuống, một giọng nói chói tai khác lại đâm thẳng vào não.
“Ái chà chà đừng lau nữa! Cái con nhãi ngu ngốc này dám lấy giẻ sắt chà lên lớp màu thời gian của ta! Lớp bụi này ông đây đã tích cóp sáu chục năm rồi đấy! Trầy mặt hết rồi!”
m thanh phát ra từ một chiếc lư hương bằng đồng thau bám đầy bụi trên quầy.
Tôi tê rần cả da đầu, bắp chân run lẩy bẩy.
Dạo này ngày nào cũng ngửi mùi ẩm mốc ở chợ đồ cũ, ngửi riết sinh ra ảo giác rồi sao?
Tối đến tan làm, tôi lê bước ngang qua phố đồ cổ. Một ông lão bày sạp ven đường đang kéo tay một du khách để chém gió: “Lư hương Tuyên Đức đời Minh đây, bảo vật gia truyền! Hai vạn (hơn 60 triệu VNĐ) anh lấy đi!”
Cái thứ gọi là bảo vật gia truyền đó phát ra một tiếng cười lạnh lùng, lanh lảnh.
“Ta nhổ vào! Ông đây mới được ship từ chợ đồ sỉ Nghĩa Ô tới đây ngày hôm qua Còn Tuyên Đức cái nỗi gì? Ta đây đến cái khu Tuyên Vũ còn chưa từng đi qua!”
Tôi vấp chân vào lề đường, suýt nữa thì dập đầu quỳ lạy tại chỗ.
Được rồi, chốt lại là:
Tôi đã có được siêu năng lực nghe hiểu bọn đồng nát sắt vụn nói chuyện một cách khó hiểu.
Trở về phòng trọ, tôi nhìn chằm chằm vào chiếc hộp gỗ trắc nhỏ xíu mua với giá 10 tệ (tầm 35k VNĐ) ở chợ đồ cũ.
“Huhu… cuối cùng cũng có người lau bụi cho mình… Lần tắm trước là từ thế kỷ trước rồi…”
Chiếc hộp rên rỉ đầy tủi thân.
Tôi vơ lấy cái giẻ lau ẩm, cẩn thận lau dọc theo thớ gỗ.
“A! Đã quá! Lực tay chuẩn phết!”
Chiếc hộp thở dài sảng khoái, “Nể tình cô bé hiểu chuyện, ta nói cho cô một bí mật. Trong lớp đáy kẹp của ta có nhét một thỏi vàng. Năm đó chủ nhân của ta chạy nạn nên đánh rơi đấy.”
Tay tôi run lên, cái giẻ rớt tạch xuống đất.
Cái nghề chạy vặt ở tiệm đồ cũ này, xem ra có ngày ngóc đầu lên được rồi.
1
Tiếng “cạch” vang lên rõ mồn một trong căn phòng trọ chật hẹp.
Tôi nuốt nước bọt, vứt cái giẻ lau dưới đất, quay người lao vào đống đồ lặt vặt, bới ra một cây tua vít dẹt đã rỉ sét.
Men theo khe gỗ dưới đáy hộp, tôi nắm chặt cán nhựa, dùng sức cắm mạnh vào.
“Ái chà chà! Cô thọt nhẹ tay thôi! Lão cốt vỡ nát bây giờ! Trầy mặt rồi, trầy mặt rồi!”
Chiếc hộp đau đớn kêu la oai oái, những miếng gỗ phát ra tiếng cọt kẹt quá tải.
Tôi coi như không nghe thấy, cổ tay nhấn mạnh xuống.
“Phập” một tiếng, tấm ván ở đáy nảy lên một góc.
Một mùi gỗ mục lâu năm lẫn với mùi bụi bốc lên xộc thẳng vào mũi.
Tôi nín thở, thò ngón tay vào cái khe hẹp đó móc ngoáy.
Đầu ngón tay chạm vào một vật cứng được bọc nhiều lớp bằng giấy dầu.
Khoảnh khắc kéo nó ra, lớp giấy dầu vỡ vụn thành bột.
Một thỏi kim loại xỉn màu rơi xuống sàn gỗ ép lồi lõm, phát ra tiếng động trầm đục.
Màu vàng ươm, thể tích không lớn nhưng cầm rất nặng và đầm tay.
“Đã quá!”
Chiếc hộp thở hắt ra một hơi, giọng điệu như trút được gánh nặng, “Nghẹn chết ông rồi. Năm đó chủ nhân của ta là thương gia bán muối khét tiếng ở Kim Lăng, lúc bỏ trốn vội vàng nhét ta vào hành lý, cái thỏi vàng nhỏ này đè đau cả ván đáy của ta mấy chục năm nay…”
Tôi chẳng thèm để ý tiếng lải nhải của cái hộp, hai tay nâng niu thỏi vàng, dùng ngón cái cọ mạnh lên bề mặt.
Lớp oxy hóa màu xám trôi đi, sắc vàng rực rỡ bên dưới càng thêm đậm nét.
Tôi không chút do dự nhét nó vào miệng, dùng răng hàm cắn mạnh một cái.
Ê cả răng, nhưng lúc lấy ra xem, trên đó đã in lại một nửa dấu răng mờ mờ.
Vàng thật.
Tôi ngồi bệt xuống đất, mồ hôi lạnh ướt đẫm lưng áo, tim đập thình thịch trong lồng ngực như gõ trống lủng.
Đây tuyệt đối không phải ảo giác.
Mọi chuyện xảy ra từ nửa ngày trước, đến giây phút này đã tạo thành một vòng tròn logic hoàn hảo.
Vài tiếng trước, tôi còn ngồi xổm ở cái sân sau tối tăm ẩm thấp của tiệm đồ cũ “Tụ Bảo Trai”, bị bà chủ mập phun mưa phùn đầy mặt.
Lúc đó tôi đang cầm tuýp keo 502, phát sầu với cái ghế Thái sư cuối thời Thanh bị gãy chân. Cái ghế đó dùng giọng ông lão khàn khàn chửi bới keo của tôi là đồ rẻ tiền, làm màng nhĩ tôi ong ong. Bà chủ thấy tôi thẫn thờ, không thương tiếc trừ luôn 50 tệ tiền lương.
Để trốn tránh những tiếng ồn ào của lũ đồ đồng đồ sứ trong tiệm, tôi kiếm cớ ra dọn đống rác. Ở tầng dưới cùng của đống phế liệu, tôi thấy chiếc hộp gỗ trắc nhỏ bị chuột gặm mất hai góc này. Nó đang thu mình trong góc, dùng giọng yếu ớt mỏng manh khóc lóc than thở rằng mình quá dơ bẩn.
Thế là tôi ma xui quỷ khiến lôi nó ra, đem ra quầy tính tiền.
Bà chủ lúc đó lật một cái bạch nhãn khổng lồ, cắn hạt dưa cười khẩy: “Tô Bán Hạ, não cô úng nước rồi hả? Bỏ 10 tệ mua khúc củi mục về nhóm lò à? Được, trừ 10 tệ vào lương hôm nay.”
Tôi ôm chặt chiếc hộp không hé răng, chịu đựng cho đến lúc tan làm rồi lao về nhà.
Bây giờ, cái “khúc củi mục” giá 10 tệ này lại nhả cho tôi một thỏi vàng ít nhất cũng phải 20 gram.
Tôi xoa xoa gò má đang cứng đờ, nắm chặt thỏi vàng trong lòng bàn tay.
Cảm giác lạnh lẽo của vàng truyền qua các đường chỉ tay lan tỏa khắp toàn thân, ép xuống cơn khao khát muốn hét lên của tôi.
Nghèo sinh liều.
Làm tạp vụ ở tiệm đồ cũ với mức lương 3.000 tệ (khoảng 10 triệu VNĐ) một tháng, ngày nào cũng ăn mì gói cận date, tôi còn chẳng biết tiền nhà tháng sau kiếm đâu ra.
Giờ thì vàng thật bạc trắng bày ra trước mắt, ba cái hiện tượng siêu nhiên hay khủng hoảng tinh thần gì đó, đều bị thỏi vàng này đập nát bét hết.
Tôi nhét thỏi vàng vào trong túi áo trong sát người, đặt chiếc hộp gỗ trắc ngay ngắn trên tủ đầu giường.
“Cảm ơn nhé, tiền bối.”
Tôi vỗ vỗ lên nắp hộp.
“Khách sáo cái gì.”
Chiếc hộp ngáp một cái, “Sáng mai thay miếng vải nhung mềm lau lưng cho ta là được, hôm nay mệt rồi, ta nghỉ chút đây…”
Giọng nói dần nhỏ lại, khúc gỗ hoàn toàn chìm vào im lặng.
Tôi nằm trên chiếc giường đơn cứng ngắc, cảm nhận sức nặng kim loại đè trước ngực, cả đêm không dám nhắm mắt.
Cái siêu năng lực nghe hiểu đồ cũ chửi thề này, biết đâu thực sự có thể giúp tôi dễ thở hơn ở cái thành phố lớn này.
2
Sáng sớm hôm sau, tôi mang hai quầng thâm mắt to bự, ôm thỏi vàng lao thẳng đến tiệm thu mua vàng ở đầu phố.
Tiệm không lớn, sau tấm kính chống đạn là một ông chủ đầu đinh mặt mũi bặm trợn.
Tôi lôi thỏi vàng từ trong túi ra, đẩy qua khe kính: “Ông chủ, kiểm tra giúp tôi.”
Ông chủ đầu đinh liếc nhìn màu sắc xỉn xỉn của thỏi vàng và dấu mộc cũ mờ nhạt trên đó, đôi mắt đục ngầu đảo vài vòng.
Ông ta lấy đèn khò đốt thử, lại cầm kìm gắp lên xem nửa ngày.
“Màu sắc bình thường, nhiều tạp chất. Để lên cân xem sao.”
Ông ta vứt thỏi vàng lên cái cân điện tử cũ rích.
Những con số màu đỏ nhảy múa vài cái, dừng lại ở “18.5g”.
Ngay lúc đó, cái cân điện tử dính đầy dầu mỡ bỗng cất giọng vịt đực gào lên:
“Hehehe! Đồ ngốc! Hôm qua ông chủ mới dán một miếng băng keo hai mặt dưới đế ta, cái cân này hụt mất đúng 2.5 gram đấy! Ông đây bây giờ là vị tướng bách chiến bách thắng trong làng cân điêu nha!”
Mí mắt tôi giật một cái, ánh mắt lập tức tối sầm lại.
“Cô em, mười tám phẩy năm gram, giá sàn thu mua hôm nay là 380 tệ/gram, tính chẵn cho cô bảy ngàn tệ nhé, được không?”
Ông chủ đầu đinh cười híp mắt bấm máy tính, tay đã kéo ngăn kéo chuẩn bị lấy tiền.
Tôi không nói hai lời, thò tay qua tóm lại thỏi vàng trên đĩa cân.
“Ông chủ, cái cân của ông nên đem đi sửa đi. Dưới đế lót băng keo hai mặt, không sợ quản lý thị trường tới sờ gáy à?”
Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta, giọng điệu bình tĩnh.
Nụ cười trên mặt ông ta bỗng cứng đờ, lớp thịt mỡ run lên hai cái, ánh mắt lập tức trở nên hung tợn: “Cô ăn nói hàm hồ gì đó? Không bán thì cút! Đừng có ở đây kiếm chuyện!”
Tôi chẳng buồn nói thêm nửa chữ, quay người đẩy cửa bước đi.
Đi thêm hai con phố, tôi vào quầy thu mua của một tiệm vàng chuỗi lớn.
Giá cả niêm yết rõ ràng, trọng lượng chuẩn xác, 21 gram, bán được 11.000 tệ (khoảng gần 38 triệu VNĐ).
Nghe âm thanh “Ting, WeChat nhận được 11.000 tệ” giòn giã vang lên từ điện thoại, tôi thở hắt ra một hơi trọc khí, cảm giác lưng mình cũng thẳng lên không ít.
Có tiền lận lưng, bước chân đi làm ở tiệm đồ cũ cũng nhẹ nhàng hơn hẳn.
Trên đường đi qua phố đồ cổ để đến tiệm, dòng người tấp nập.
Hai bên đường bày la liệt các loại sạp hàng, đồ cổ thật giả lẫn lộn, chuyên dùng để lùa những con gà béo không hiểu chuyện.
Một du khách mặc áo chống nắng đang ngồi xổm trước một sạp, tay ôm một cái lư hương bằng đồng màu đỏ thẫm, vuốt ve không nỡ buông.
Chủ sạp là một người đàn ông trung niên gầy như khỉ, nước bọt văng tung tóe để chém gió: “Đại ca, anh thật có mắt nhìn. Đây là Lư hương Tuyên Đức đời Minh đấy, lớp màu vỏ hạt dẻ nguyên chất, do ông cụ nhà em truyền lại. Nhà đang kẹt tiền gấp, hai vạn, anh lấy đi!”
Du khách rõ ràng đã động lòng, móc điện thoại ra chuẩn bị quét mã QR.
Tôi vừa hay đi tới ngang sạp.
Cái lư hương đồng đỏ thẫm đó phát ra một tràng cười cuồng loạn chói tai, xuyên qua mọi tạp âm xung quanh đập thẳng vào tai tôi:
“Hahahaha bảo vật gia truyền? Lão tử tối qua mới được moi ra từ cái thùng giấy chuyển phát nhanh của chợ sỉ Nghĩa Ô! Còn phải ngâm trong rãnh nước thối cả đêm để làm cũ! Lão tử đến cái cửa triều Minh quay hướng nào còn chả biết! Dưới cái quai xách bên phải, lỗ giả mọt do máy móc tạo ra còn chưa được mài nhẵn kìa!”
Tôi khựng lại, thấy vị du khách kia định trả tiền thật, nhịn không được bèn cười khẩy một tiếng.
Du khách khựng lại, quay sang nhìn tôi: “Cô em, cô cười gì thế?”
Sắc mặt tên chủ sạp gầy như khỉ thay đổi, hung tợn trừng mắt nhìn tôi.
Tôi chỉ vào cái lư hương, giọng điệu dửng dưng: “Đại ca, mua lư Tuyên Đức cũng phải nhìn kỹ chút. Dưới cái quai bên phải kìa, lỗ giả mọt do máy tạo ra vẫn còn sờ sờ ra đó, hai vạn tệ mua một món đồ thủ công mỹ nghệ hiện đại, tiền của anh là do gió cuốn tới à?”
Du khách giật mình, vội vàng lật ngược cái lư hương lại, kề sát mắt nhìn vào dưới cái quai bên phải. Quả nhiên có một cái lỗ nhỏ hình tròn cực kỳ vuông vức, rõ ràng là dấu vết của máy móc hiện đại.
“Đệt! Mày lấy hàng mỹ nghệ lừa tao hai vạn?!”
Du khách chửi thề một tiếng, đập mạnh cái lư hương xuống sạp, quay người bỏ đi.
Chủ sạp gầy như khỉ bị hỏng chuyện làm ăn, tức đến mức ngũ quan vặn vẹo.
Hắn ta bật phắt dậy, túm lấy cổ áo tôi, mùi thuốc lá rẻ tiền hôi rình phả thẳng vào mặt tôi:
“Con nhãi ranh ở đâu ra! Dám phá đám ông đây! Hôm nay không đền tao hai vạn thì mày đừng hòng rời khỏi đây!”
Hắn ta rất khỏe, siết chặt làm tôi không thở nổi, các chủ sạp xung quanh thì lạnh lùng quay đi giả vờ không thấy.