Chương 4 - Bí Mật Của Thái Phó
Ta bảo biểu tỷ nhà xa của Bích Đào vào cung làm cung nữ. Biểu tỷ của Bích Đào tên Thúy Nhi, tay rất khéo, ta bảo nàng học một kiểu búi tóc đặc biệt, tóc mai bướm.
Đó là kiểu tóc khi còn chưa xuất giá, Lưu Như Yên thường chải nhất. Người trong bức họa của Cố Trường Yến, cũng búi đúng kiểu tóc mai bướm ấy. Bức họa đó bị giấu trong hộc tối thư phòng của hắn, còn có một túi thơm thêu song song liên lý, và một bức thư. Trên thư chỉ có một hàng chữ: “Như Yên, đời này vô duyên, kiếp sau lại nối.”
Ta để phụ thân “vô tình” nhắc đến một việc trên triều. Ta chỉ mới khen trước mặt ông một câu: “Tranh của Cố Thái phó thật là tuyệt diệu, nhất là tranh mỹ nhân, búi tóc vẽ chân thật như người sống vậy.”
Phụ thân ta là người ngay thẳng, lúc vào triều liền “thuận miệng” nhắc một câu: “Bệ hạ, thần nghe nói Cố Thái phó giỏi vẽ tranh mỹ nhân, đặc biệt giỏi vẽ những cô nương búi tóc mai bướm.”
Hoàng đế là một kẻ đa nghi. Một ngoại thần mà lại am hiểu kiểu tóc chỉ nơi cung đình mới có. Hắn vẽ ai? Hắn từng gặp ai?
Bước cuối cùng, cũng là bước quan trọng nhất.
Biến loạn của phiên vương ở kiếp trước xảy ra ba năm sau. Nhưng kiếp này rất nhiều chuyện đã thay đổi, ta buộc phải bố trí từ trước. Ta bảo Triệu Hằng tăng cường phòng bị ở Tây Bắc, mật thiết giám sát động tĩnh của các phiên vương.
Triệu Hằng không hỏi ta vì sao, chỉ gật đầu nói “Được”.
Chàng chính là con người như vậy. Không hỏi nguyên do, không hỏi đúng sai, chỉ cần là điều ta nói, chàng đều tin.
Ba tháng sau, biểu tỷ của Bích Đào là Thúy Nhi truyền tin từ trong cung ra:
Hoàng đế triệu Cố Trường Yến vào cung thưởng họa, bắt hắn ngay tại chỗ vẽ một bức tranh mỹ nhân. Vẽ xong, hoàng đế nhìn bức tranh rất lâu. Lâu đến mức cung nữ trong điện bắt đầu run rẩy, lâu đến mức trên trán Cố Trường Yến rịn ra từng tầng mồ hôi mịn.
Sau đó hoàng đế cười. Nụ cười ấy, Thúy Nhi nói, nhìn mà lạnh cả sống lưng.
Lại qua nửa tháng nữa, Hoàng đế lấy cớ “Quý phi nương nương nhớ quê” mà giáng phụ thân của Lưu Như Yên là Lưu thị lang ra khỏi kinh thành, điều đến Lĩnh Nam nhậm chức. Ngoài mặt là thăng, trong tối là giáng. Lĩnh Nam là chốn chướng lệ, đã đi thì đừng hòng trở về.
Lưu Như Yên khóc trong cung suốt một đêm. Nàng quỳ ngoài tẩm cung của Hoàng đế, dập đầu đến nỗi trán cũng rách toạc, cầu Hoàng đế nể mặt Nhị hoàng tử mà tha cho phụ thân nàng.
Nhưng Hoàng đế không mở cửa.
Khi ta nghe được tin này, ta đang khâu chiếc tai thứ hai cho con hổ vải. Kim đâm vào đầu ngón tay, rịn ra một giọt máu.
Đêm đó, Cố Trường Yến tới tìm ta.
Chàng đứng trong con hẻm sau cửa sau phủ họ Thẩm, dưới ánh trăng, thanh sam mỏng manh, tựa một bụi trúc bị gió bẻ gãy. Tóc tai rối loạn, môi khô nứt, sắc mặt vàng như sáp, hốc mắt trũng sâu —— chỉ trong ba tháng ngắn ngủi, chàng đã gầy đi ít nhất hai mươi cân.
“Thẩm tiểu thư,” chàng lên tiếng, giọng khàn đến mức gần như không nghe rõ, “là nàng làm.”
Ta đứng trong ngưỡng cửa, cách nửa cánh cửa nhìn chàng.
“Cố đại nhân đang nói gì vậy?”
“Chuyện trong cung, chuyện nhà họ Lưu, đều là nàng bày ra cục diện.”
Ta cười. “Cố đại nhân dựa vào đâu cho rằng, một nữ tử khuê phòng như ta, có thể bày ra cục diện như thế?”
Chàng im lặng một lúc.
“Được. Ánh mắt nàng nhìn ta, có sát ý. Ta biết, chính là nàng.”
Ta sững người.
Người đàn ông này, chàng không yêu ta, nhưng chàng quá nhạy bén. Từ trong mắt ta, chàng đã nhìn thấy huyết cừu của hai kiếp trước và kiếp này.
“Cố đại nhân, ta khuyên ngài một câu, quản cho tốt chuyện của mình, đừng tới tìm ta nữa. Nếu không, ta cũng không biết mình còn làm ra chuyện gì đâu.”
Ta đóng cửa lại.
Khoảnh khắc cánh cửa khép kín, ta nhìn thấy gương mặt chàng tan vỡ dưới ánh trăng.
Ta tựa vào cánh cửa ngồi xuống, ôm con hổ vải còn khâu dở, toàn thân run rẩy.
Ngoài cửa, Cố Trường Yến đứng rất lâu. Tiếng bước chân đi qua đi lại trong hẻm, tựa một con thú bị nhốt trong lồng.
Cuối cùng, tiếng bước chân dần dần xa đi.
4
Ngày Triệu Hằng tới cầu hôn, chàng mang theo ba trăm thiết kỵ.
Ba trăm kỵ binh chỉnh tề đứng ngoài cửa phủ họ Thẩm, giáp sắt phản chiếu ánh ngày, sát khí đằng đằng, dọa đến mức dân chúng cả con phố đều bỏ chạy sạch sẽ.
Cha ta run run rẩy rẩy ra đón, chân còn đang đánh bần bật.
Triệu Hằng quỳ một gối xuống đất, hai tay nâng một chiếc hộp gỗ: “Bá phụ, Triệu Hằng cầu cưới lệnh ái.”
Hộp gỗ mở ra, bên trong là đôi ngọc bội ấy. Bên cạnh còn có một tờ giấy, trên đó nét chữ ngoằn ngoèo viết một hàng:
“Triệu Hằng cầu cưới Thẩm Chiêu Ninh, đời này không nạp thiếp, đầu bạc không rời.”
Chữ xấu đến kinh người. Nét ngang chẳng thẳng, nét dọc chẳng ngay, ba chấm thủy trong chữ “Thẩm” bị viết thành ba cái vòng, bộ “nhật” trong chữ “Chiêu” lại bị viết thành bộ “khẩu”.
Cha ta nhìn tờ giấy ấy, khóe miệng giật giật.
“Ta viết kém lắm,” vành tai Triệu Hằng hơi đỏ, “luyện ba tháng, mới viết thành thế này.”
Ta đứng sau bình phong, nhìn dáng vẻ vụng về của chàng, nhìn tờ cầu hôn xấu đến kinh thiên động địa, nhìn con thỏ bị khắc thành con chuột, bèn cười, cười rồi lại khóc.
Đời trước, Cố Trường Yến tới cầu hôn, mang theo danh gia thư họa, cổ ngoạn ngọc khí, đến cả rương lụa là. Thiếp cầu hôn được viết bằng kiểu chữ tiểu khải cài trâm, từng chữ từng chữ đều bóng bẩy như ngọc.
Nhưng tờ thiếp ấy lại là do quản gia chấp bút thay. Sau này ta thấy bản nháp trong thùng giấy vụn của chàng, trên đó chỉ có bốn chữ —— “Phụng mệnh thành hôn.”
Phụng mệnh. Phụng mệnh của ai? Phụng mệnh của phụ thân chàng, phụng mệnh rằng “một vị Thái phó nhất phẩm cần có một chính thê môn đăng hộ đối.”
Mà Triệu Hằng lại mang đến một đôi ngọc bội do chính mình khắc, một tờ cầu thân do chính tay mình viết, cùng một chiếc bánh quế hoa bị giáp sắt đè nát.
Nhưng đó là do chính chàng viết, chính chàng khắc, chính chàng ôm trong ngực suốt sáu ngày sáu đêm, chạy chết ba con ngựa mới mang về.